Yên Bái sản xuất công nghiệp đầu năm khởi sắc

Thời điểm này, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (SXCN) trên địa bàn tỉnh đang tập trung thi đua sản xuất, kinh doanh (SXKD), quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, kế hoạch ngay từ đầu của năm 2023. Khí thế lao động, sản xuất cho thấy, các doanh nghiệp hoạt động ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.

Công nhân Công ty cổ phần Sứ kỹ thuật Hoàng Liên Sơn tạo hình sản phẩm. (Ảnh: T.L)

Thời gian qua, SXCN trên địa bàn tỉnh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do bất ổn chính trị thế giới, giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao. Tuy nhiên, các sở, ngành đã cùng chính quyền các địa phương bám sát hoạt động SXKD và hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, chủ động tham mưu, tìm biện pháp giải quyết, tháo gỡ khó khăn. Các doanh nghiệp cũng chủ động, thích ứng linh hoạt và tập trung nguồn lực đẩy mạnh SXKD; nhờ đó, hoạt động SXCN trong tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng.

Theo Sở Công Thương, chỉ số SXCN dự ước tháng 3/2023 tăng 7,6% so với tháng trước. Trong đó, các ngành công nghiệp, ngành khai khoáng tăng 6,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 9,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,3% so với tháng trước. Tính chung quý I/2023, chỉ số công nghiệp toàn ngành tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong các ngành công nghiệp, ngành khai khoáng tăng 12,5%, đóng góp 1,51 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 8,2%, đóng góp 5,59 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 8,3%, đóng góp 1,4 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 4,8%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm.

Ông Vũ Vinh Quang – Giám đốc Sở Công Thương cho biết: để tăng tốc SXCN, ngay từ những tháng đầu năm, ngành công thương đã phối hợp với chính quyền các địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp. Theo đó, cùng với việc triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động SXKD, thúc đẩy đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp và tích cực xúc tiến đầu tư các dự án mới, ngành công thương tập trung triển khai một số giải pháp phù hợp với đặc thù riêng của những ngành công nghiệp chủ lực.

Trong đó, nhóm ngành khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất và phân phối điện… được tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để các dự án mới đầu tư hoàn thành, các dự án đang triển khai đi vào hoạt động đúng tiến độ, phát huy hiệu quả đầu tư.

Ở nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng, Sở Công Thương tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Yên Bái tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà phân phối.

Với nhóm ngành sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng, sở cùng chính quyền các địa phương tập trung đẩy mạnh các hoạt động xây dựng, nhất là các công trình, dự án trọng điểm, động lực. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tham gia cung ứng sản phẩm cho các công trình đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh.

Cùng với nỗ lực của các sở, ngành, địa phương, các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp khôi phục SXKD. Trong đó, có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới công nghệ sản xuất nhằm giảm chi phí sản xuất.

Nhờ tập trung thực hiện các giải pháp tăng tốc của ngành công thương; chính quyền các địa phương đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp nên một số sản phẩm chính có chỉ số sản xuất quý I/2023 tăng cao so với cùng kỳ như: quặng sắt và tinh quặng sắt chưa nung kết tăng 13,6%; đá phiến tăng 28,5%; tinh bột sắn, bột dong riềng tăng 13,9%; quần áo lót cho người lớn tăng 85,8%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 27,9%; gỗ lạng tăng 1,5 lần; sơn và véc ni tăng 34%; xi măng tăng 7,2%; các loại đá lát, đá lát lề đường tăng 10,3%; bột mài hoặc đá dăm mài tự nhiên hay nhân tạo tăng gần 1 lần; các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất liệu khoáng khác chưa được phân vào đâu tăng 50,3%; cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại tăng 62,3%; điện sản xuất tăng 7,8%; điện thương phẩm tăng 7,4%; nước uống được tăng 4,9%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 4,7%;…

Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ như: quặng chì và tinh quặng chì giảm 16,6%; đá xây dựng khác giảm 17,2%; chè giảm 57,4%; bộ quần áo các loại giảm 14,8%; gỗ dán giảm 57,9%; bao bì bằng túi giấy giảm 4,7%; sản phẩm in khác giảm 6,7%; dược phẩm khác chưa phân vào đâu giảm 21,9%; thanh, que bằng thép hợp kim rỗng giảm 18,9%; dịch vụ sản xuất cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại giảm 37,9%;…

Theo Báo Yên Bái


Bài viết mới nhất: